EMERALD CITY

RESIDENCE, COMMERCIAL, COMPLEX


Site :PhuDien, Hanoi, Vietnam
Site Area : 8,69 ha
Building Area : 472648m²
Total Area : 3.864.994m²

BCI AWARDS

2012 - 2017 BCI TOP10/
TOP 10 BCI CHAU A

We've got BCI award 2 time in 2012 and 2017
BCI Asia Awards (BCIAA) - Top 10 Architect Awards
honors the most commercially significant architects
in HK, MLS, PLP, SGP, TLD and Vietnam

U-Silk City

RESIDENCE, COMMERCIAL, COMPLEX
Site : Van Khe, Hanoi, Vietnam
Site Area : 92,107m²
Building Area : 26,793m²
Total Area : 681,821m²

Celve Complex

SPORTS, COMMERCIAL COMPLEX
Site : Van Phu, Ha Ðong, Hanoi, Vietnam
Site Area : 65,606m²
Building Area : 30,383m²
Total Area : 772,347m²

D27e SEVEN STARS

OFFICE, APARTMENT COMPLEX
Site : CauGiay, Hanoi, Vietnam
Site Area : 22,256m²
Building Area : 6,524m²
Total Area : 162,806m²

DRAGON–PIA RESORT

CONDO, ENTERTAIMENT, MARINA
Site :Nha Trang, An Vien, Viet nam
Site Area : 21,974m²
Building Area : 8,081m²
Total Area : 103,923m²

CAU GIE-NINH BINH EXPRESS
SERVICE AREA

SERVICE AREA, COMPLEX MALL
Site : Ha Nam, Viet nam
Site Area :18,562m²
Building Area : 6,012m²

E4-19 COMPLEX

APARTENT COMMERCIAL COMPLEX
Site : Cau Giay, Ha noi, Viet nam
Site Area : 4,450m²
Building Area : 2,059m²
Total Area : 51,609m²

YAOUNDÉ HOTEL

HOTEL, SERVICE APARTENT, CONFERENCE
Site : Yaounde, Cameroon
Site Area : 6ha
Building Area : 3,059m²

recent


Our News

2019/03/20

Đọc & hiểu kiến trúc qua một chữ S

S-Space là công trình mới nhất của H&P Architects được giới thiệu trên các trang Kienviet.net và Archdaily.com cuối năm 2018. Chữ S khiến người ta nghĩ ngay đến một không gian uốn cong mềm mại phía sau những bức tường đá vuông vức – nhưng vì không thấy nó ở đâu trong các hình ảnh đã công bố, nên tạo ra một sự tò mò để tìm hiểu. Những không gian rộng / hẹp, ngắn / dài nối tiếp nhau và không lặp lại trong công trình, kích thích người xem khám phá để rồi ngạc nhiên nhận ra là đường cong ấy không hề tồn tại (Stimulation & Sruprise)…



Gây tò mò không kém là cách đặt tên S-Space không theo kiểu thông thường (lấy chữ đầu tên chủ nhân), cũng không theo kiểu mà H&P vẫn dùng (bằng chữ đầu của các vật liệu chính – như BES Pavilion ở Hà Tĩnh = Bamboo / tre + Earth / đất + Steel / thép). Ở đây, “S” trước hết chỉ một hành động, rồi mới đến đối tượng là các vật liệu, và được diễn giải một cách cũng không bình thường: S = Save the Stones & Scaffoldings (Giải cứu đá và giàn giáo).


Cách viết kiểu Tây này thật khó mà chuyển nghĩa sang tiếng Việt cho trôi chảy. Không biết liệu có ai cho rằng Save ở đây là “tiết kiệm” hay là “bảo quản” không? (nghe chừng có vẻ cũng phù hợp khi các vật liệu chính được sử dụng trong công trình đều là đồ tận dụng). Còn “giải cứu đá và giàn giáo” là cách dịch rất “thật thà” (word by word – như kiểu “Giải cứu binh nhì Ryan” của Steven Spielberg, 1998) – nhưng tại sao lại phải “giải cứu” những thứ sắt đá vô tri vô giác? Mà đối với chúng thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Thực chất, việc tái sử dụng đá phế liệu và ống thép giàn giáo ở đây không phải là để tiết kiệm hay nhằm mục đích giảm thiểu ô nhiễm môi trường – mà là tạo điều kiện cho những thứ vốn sinh ra không được lành lặn và đẹp đẽ có cơ hội được hiện diện, được tham gia vào việc kiến tạo không gian và có tiếng nói chính danh trong kiến trúc. “Giải cứu” – tức là giải thoát những thứ xấu xí “đầu thừa đuôi thẹo” khỏi thân phận là “phế thải” – “rác thải”, từ chỗ là đồ bỏ đi trở thành hữu ích, được kết hợp lại bên nhau một cách trân trọng, không kể đến nguồn gốc “cao quý” (từ danh lam thắng cảnh quốc gia) hay “tầm thường” (từ công trường xây dựng). Điều đó thực sự cũng có ý nghĩa như là một sự cứu rỗi vậy.
Nhưng S-Space không phải chỉ là Stimulation & Surprise và Save the Scraps, mà còn phản ánh / liên hệ tới nhiều yếu tố, nhiều vấn đề “S” khác của kiến trúc.

Site & Situation

Câu chuyện về Kẽm Trống bị xâm hại (“nóng” trên mạng xã hội khoảng 2-3 năm nay) thực ra không liên quan tới địa điểm xây dựng nằm trong khu đô thị mới của thị trấn Đồng Văn – chỉ là cùng thuộc tỉnh Hà Nam. Khu đất có hình chữ L, diện tích 720 m2 và có tới 3 hướng tiếp cận khác nhau do được ghép lại từ 4 lô đất 180 m2. Trong đó lô phía sau ở hướng Nam được để trống đón gió mát (chỉ làm sân vườn cho trẻ em chơi), và phần lớn lô đầu tiên ở góc đường được tổ chức thành không gian cảnh quan (cây xanh mọc trên mặt nước). Tại vị trí quan trọng này – ở góc chuyển giữa trục giao thông chính và tuyến cảnh quan, có tầm nhìn rất đẹp và rộng mở (với ~60m mặt tiền) nhưng hình dạng lại không vuông vắn – nếu chỉ làm nhà ở thấp tầng (kể cả là biệt thự sang trọng) sẽ không tránh khỏi bị vụn vặt về hình khối và tiểu tiết. Vì vậy, sự hiện diện của S-Space với kích thước 25m x 12m tại vị trí này có thể đã phá vỡ “bức tranh quy hoạch” trên giấy – nhưng trên thực tế thì hoàn toàn có lý và có thể chấp nhận được, bởi công trình có khối tích đủ lớn và hình thức đủ mạnh nhưng chiều cao chỉ bằng ngôi nhà 2 tầng và mật độ xây dựng chỉ ~40%. Trong tương lai, khi khu nhà ở liền kề được xây dựng “hoàn chỉnh” – với chiều dài hàng trăm mét và mật độ xây dựng lên tới 70-80%, với một cộng đồng dân cư gồm 2-3 thế hệ – thì một không gian dịch vụ công cộng thoáng như vậy sẽ ngày càng phát huy hiệu quả và sẽ là một nhân tố làm nên cảm nhận về “hồn nơi chốn”/ tinh thần của địa điểm. Còn hiện tại, khi địa điểm này mới đang được hình thành, bối cảnh vẫn chưa ổn định – thì S-Space đã chứa đựng yếu tố tinh thần ấy trong không gian của chính nó.

Structure & Space


Ở bên ngoài, S-Space như một ngôi nhà lớn đơn giản và liên thông, nhưng khi vào bên trong thì lại phức tạp như một mê cung – do có sự hỗn hợp của 2 hình thái không gian khác nhau. Ở phần thân nhà là những bức tường đá gấp khúc nhiều lớp (tượng trưng cho các dãy núi), tạo thành một chuỗi những không gian rộng – hẹp nối tiếp nhau ngoằn nghoèo như con rắn (Snake Shape) – nơi lẽ ra có một dòng sông. Trong không gian của phần mái thông suốt từ đầu đến cuối công trình, là một vệt sàn lửng chạy dài song song với sống mái, vắt ngang qua các bờ tường và xuyên giữa rừng giàn giáo đâm chéo lên làm kết cấu đỡ mái. Tuy nhiên, sự khác biệt đến mức tương phản (về màu sắc, hình dạng, tính chất, cấu trúc, chiều hướng,..) giữa các bức tường đá bên dưới và các thanh tre/ giàn giáo trên cao làm cho phần thân và phần mái như tách khỏi nhau, chỉ đặt lên nhau một cách lỏng lẻo / ngẫu nhiên. Để cho các không gian này là của nhau một cách hữu cơ hơn – thì các bức tường trong nhà nên làm cao thêm (~1m, ở những chỗ không có sàn lửng), và các thanh thép mọc ra từ mặt tường đá (không chỉ ở trên đỉnh – Vì Thổ sinh Kim). Mặt khác, các thanh này cũng cần được nhấn mạnh để tập trung thực hiện tốt vai trò là hệ thống kết cấu chuyển tiếp giữa cấu trúc mạng ca rô của mái và cấu trúc tuyến zíc zắc của tường, nên có thể sơn một màu khác để không bị lẫn với tre trúc (Vì Kim khắc Mộc), cũng không nên quá tự do mà thành rối mắt.



Sustainability

Khi mà đá được thu gom từ những khai trường/ làng nghề còn giàn giáo được tận dụng từ những công trường xây dựng – nhất là với thông điệp “kiến trúc có trách nhiệm với môi trường tự nhiên” – thì có lý để cho là H&P đang theo đuổi xu hướng kiến trúc “xanh”. Nếu thêm thông tin là ngoài đá và giàn giáo ra công trình còn có thể dùng tre nứa rất sẵn có ở các làng quê (để làm sàn, làm mái) và tận dụng cả gỗ cốp pha (để làm bàn ghế), rồi dùng nước tuần hoàn để làm mát cả trên mái và dưới nhà,.. thì S-Space có lẽ sẽ là một kiến trúc “xanh” thật sự hoàn hảo. Nhưng H&P đã rất thẳng thắn, không “sáng tác” thêm như vậy – vì đó không phải là ý tưởng chủ đạo của họ. Và dù vậy thì S-Space vẫn xứng đáng là một kiến trúc có tính bền vững – từ nghĩa đen là khả năng chịu lực cơ học (Strong – với những bức tường đá dày chắc và kiên cố, chỉ để đỡ một vệt sàn lửng và mái nhẹ), đến khả năng thích ứng với những khía cạnh của môi cảnh để tồn tại lâu dài (Sustainable – như các giải pháp thiết kế thụ động, thích ứng với điều kiện khí hậu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, tận dụng vật liệu sẵn có ở địa phương, sử dụng nguồn nhân lực và kỹ thuật tại chỗ,..). Thích ứng để trường tồn – không chỉ trong quan hệ với môi trường tự nhiên, mả với cả thế giới vật chất và tinh thần của con người – là định hướng dẫn dắt từ ý đồ đến chỗ hình thành những giải pháp “xanh” đúng lúc, đúng chỗ, một cách tự nhiên nhất. Được như thế thì kiến trúc mới thực sự là bền vững.

Social Space




Một phần quan trọng nữa trong thông điệp của H&P là “Kiến trúc có trách nhiệm với môi trường văn hóa – xã hội”, với tính chất là một không gian mở phục vụ cộng đồng, nội dung thường nhật là quán cà phê và định kỳ có hoạt động văn hóa nghệ thuật. Nếu chỉ như vậy thì có gì khác các quán cà phê ca nhạc? “Trách nhiệm xã hội” ở đây không đơn giản chỉ là sự đánh động – cảnh báo mà đề cập đến các chức năng xã hội của kiến trúc – bao gồm các khía cạnh: Giáo dục/thẩm mỹ, thông tin/giao tiếp và nhân văn/nhân đạo. Ý tưởng về không gian cộng đồng mở đã được H&P thực nghiệm ở BES Pavilion (Hà Tĩnh, 2013), BE Friendly (Mạo Khê, 2016) và nhận được sự đồng thuận của các chủ nhân/ chủ đầu tư trong việc chia sẻ quyền sử dụng mảnh đất thuộc sở hữu riêng của mình cho đời sống xã hội, chấp nhận bỏ tiền làm một không gian không có cửa để mọi người có thể tiếp cận tự do. Nhà không cần cửa ở nông thôn và miền núi thì dễ hiểu, nhưng ở môi trường đô thị lại là một thách thức không nhỏ về an ninh (thậm chí nhiều ngôi đình làng bây giờ cũng đã phải thường xuyên cửa khóa then cài để bảo vệ tài sản). Có phải thêm chi phí để thuê người bảo vệ – song từ góc độ khác thì lại giúp cho những người hoàn cảnh khó khăn một cơ hội làm việc để có thu nhập, một mái nhà để che mưa nắng – qua đêm. Trước mắt, S-Space là quán cà phê – nhà hàng, nhưng hoàn toàn có thể trở thành một nhà sách – thư viện mở, một phòng trưng bày – cửa hàng, lớp học nhỏ – không gian vui chơi của trẻ em, nơi gặp mặt – sinh hoạt của các nhóm xã hội,.. – ít nhất cũng chia sẻ được khu WC để cải thiện vệ sinh môi trường. Thiết kế của H&P – chuyển từ một không gian đóng kín thành không gian mở – là tiền đề cho việc quản lý và tổ chức sử dụng tiếp tục đưa nó trở thành một không gian cộng đồng. Và ở đây phải ghi nhận sự hỗ trợ rất lớn của các chủ nhân và chủ đầu tư đã tạo điều kiện cho H&P thực hiện được ý tưởng nhân văn của mình.

Sketch -> Solutions

H&P khá kiệm lời nên chỉ dùng một vài hình ảnh sơ bộ để diễn giải quá trình tư duy của mình sao cho dễ hiểu nhất. Vì thế sự liên hệ từ cảm hứng đến ý tưởng sáng tạo đang được hồn nhiên hóa – đơn giản hóa (Simplify) về cả đường nét và logic kiến tạo không gian. Hầu như những gì có trong phác thảo ban đầu (núi, cây, mây, nước) đều được đưa vào công trình, gắn với một thành phần kiến trúc cụ thể (núi -> tường đá, sông -> lối đi, mây -> mái nhẹ,..). Nhưng thực tế thì từ phác thảo đến hiện thực là cả một hành trình tư duy không hề đơn giản. Cảm hứng chỉ gợi mở những ý nhỏ, từ đó KTS phải xây dựng thành ý tưởng chủ đạo và KTS phải cụ thể hóa thành giải pháp thiết kế, đồng thời phát triển để nâng cấp thành tư tưởng kiến trúc, khái quát hóa thành triết lý sáng tác (quá trình này có thể tiếp diễn kể cả sau khi dự án đã hoàn thành và tiếp nối sang dự án khác). S-Space đã là công trình thứ 3 trong vòng 5 năm của chuỗi các kiến trúc dạng này – nên đã đến lúc H&P phải làm được điều đó để nâng cấp chính mình. Mặt khác, sáng tạo với tính chất một hoạt động khám phá thì không thể đi mãi theo một lộ trình an toàn nhất, mà là đi ở ranh giới giữa cái đã biết và chưa biết, ở ngưỡng tới hạn của năng lực và nhu cầu. H&P có tư duy trực diện và thẳng thắn, cách biểu đạt mộc mạc và có chừng mực nên kiến trúc cũng giản dị và chân thật (Straight forward) – nhưng cũng vì thế mà vẫn còn thô ráp, chưa được gọt giũa gia công nên còn hiền lành và chưa thật mãn nhãn/ bắt mắt. Nếu có thể “vặn” cho sống mái “lệch” thêm chút nữa, nếu làm cho sàn lửng “bay” hẳn ra phía trước thành một điểm nhấn ở đầu hồi, nếu làm cho tấm mái dày hơn, khỏe hơn, “vươn” ra xa hơn và “sà” xuống thấp hơn – thì hiệu quả tạo hình sẽ mạnh mẽ và cảm nhận thị giác cũng trọn vẹn hơn.

Spirit of Space

Hình ảnh những sông – núi – cỏ – cây hồn nhiên trong cảm hứng ban đầu chỉ gợi lên sự hoài niệm nhẹ nhàng về một thắng cảnh thiên nhiên đang bị xâm hại. Nhưng hình ảnh kiến trúc trong thực tế lại có thể khơi dậy những cảm nhận (Sensibility) trực diện rất mạnh mẽ. Đó là một nỗi buồn (Sorrow) thấm thía – trước tình trạng giá trị di sản của cha ông để lại đang bị chính con cháu mình tàn phá. Đó còn là một cảm giác trào phúng (Satire/ Sarcasm) sâu cay – với những liên tưởng có thể gây sốc (Shocking): Dãy núi tự nhiên chỉ còn là những bức tường đá đều chằn chặn, vuông vức, màu đen, không sự sống; những giàn giáo thép mọc ra từ đó như rừng cây khô trụi lá; dòng sông Đáy uốn khúc giữa các khe núi cũng đã cạn trơ đáy,.. Rồi một sự quan ngại – hoài nghi (Solicitude/ Sceptisism) sâu sắc – từ mối liên hệ giữa cấu trúc hạ tầng đặc chắc và kiên cố (Strong và Solid) với kiến trúc thượng tầng mỏng mảnh và xiên xẹo (Slim/ Slight): Sức mạnh nào có thể tách rời và xô lệch những vách đá kiên cố như vậy? Và đã như thế rồi thì còn sức mạnh nào có thể ràng buộc và liên kết chúng lại với nhau nữa? Rõ ràng tinh thần chủ đạo của kiến trúc ở đây không phải là tái hiện sự thơ mộng của quá khứ – mà là gợi lên sự khốc liệt của hiện thực, trong những tương quan có phần trớ trêu/ trái khoáy. Chính điều đó có ý nghĩa cảnh báo – thức tỉnh nhận thức chung của XH nhiều hơn là những ám chỉ trực tiếp hay gián tiếp về một Kẽm Trống “ở đâu đó”/ về một khu công nghiệp mà ở đâu cũng có. Và cũng từ đó mà hình thành cảm nhận về ý nghĩa của không gian – là sự biểu hiện cụ thể hơn, ở cấp độ vi mô hơn của khái niệm “hồn nơi chốn” – “tinh thần của địa điểm”.

Semantic & Semiotic

Những liên tưởng mang tính so sánh & ẩn dụ như trên là một mảng nội dung quan trọng của ngôn ngữ biểu đạt thị giác – nó kết nối cái nhìn thấy (Seen – thuộc lĩnh vực Ký hiệu học/ Semiotics) với cái cảm thấy (Sense – thuộc lĩnh vực Ngữ nghĩa học/ Semantics), và nhờ vậy mà góp phần làm phong phú thêm giá trị tinh thần của kiến trúc.
“S” không chỉ là một chữ cái, mà là một ký hiệu mang rất nhiều ý nghĩa – cả cái phổ quát và cái chuyên biệt, cả vật chất và tinh thần, ở cả phương Đông và phương Tây. Một loạt các yếu tố / vấn đề đã đề cập trong bài viết này (bằng tiếng Anh) đều bắt đầu bằng chữ “S” và được phản ánh trong S-Space ở Việt Nam. Nhìn từ góc độ văn hóa Á Đông, “S” là một phần biểu tượng của thuyết Âm – Dương, biểu hiện quy luật thống nhất trong sự đa dạng và chuyển hóa giữa các mặt đối lập. Trong tiếng Anh có rất nhiều cặp “S” đối ứng như vậy (Square >< Sphere, Slow >< Speedy, Strong >< Shy, Sound >< Silence, Sudden >< Sequence, Solidarity / Synthesis >< Separation, Sanctity >< Shame, Serious >< Sarcasm, Smart >< Stupid,..). “S” là một phần ký hiệu của $ (đồng USD = vật chất), nhưng cũng là chữ đầu của Spirit (= tinh thần).
“S” cũng biểu hiện thế ứng xử linh hoạt / uyển chuyển – cho nên nó có thể không trực tiếp hiện diện bằng thị giác, nhưng luôn để lại dấu ấn và được cảm nhận trong kiến trúc. Vì kiến trúc là một nghệ thuật tổ chức, với bản chất là sự “tổng hòa của các mặt đối lập”, nên phải duy trì sự cùng tồn tại hòa bình của các yếu tố khác biệt, đồng thời kiểm soát mâu thuẫn giữa chúng ở thế cân bằng động để đảm bảo sự ổn định lâu dài. Chỉ nên nhấn mạnh – cường điệu hóa ở một số vị trí quan trọng (tạo ra sự tương phản – đối lập trong phạm vi cục bộ) để thúc đẩy sự phát triển tiếp nối và bền vững. Trong quá trình xây dựng và phát triển ý tưởng, tư duy sáng tạo cần phải sắc bén để đạt tới lý tưởng, cần nhìn thật xa để định hướng hành động, cần mạnh mẽ đến cùng để chi phối biểu hiện. Nhưng đến khi thiết kế – thì nên tránh sự cực đoan mà lùi lại một bước, xử lý linh hoạt/ mềm mại để kiến trúc có cơ hội khả thi, bắt rễ vào hiện thực và gần gũi với cuộc sống.

Side note

S-Space là một cái tên Tây, nhưng “S” gợi lên những hình ảnh thân thuộc về Việt Nam – đất nước hình chữ S, về dòng sông quanh co uốn khúc ở mỗi vùng quê. Bản thân Không gian S không khai thác nhiều yếu tố truyền thống, nhưng không thấy nó xa lạ mà vẫn mang hơi hướng một mái nhà chung – mái đình. Có điều tôi không thích cách gọi là “không gian Sinh hoạt cộng đồng”/ “Nhà cộng đồng” theo kiểu Tây (đang rất “hot” nhưng vô danh tính và vô cảm) – Rất may là H&P đã có ý ẩn đi. Cấu trúc “ngoài đóng trong mở” với hình thức mộc mạc này hoàn toàn thích hợp để tải những nội dung nhân văn hơn (VD: Studio Sáng tạo/ không gian Sống / chốn Sinh tồn,..), cụ thể và gần gũi hơn, cho phép con người hiện diện nhiều hơn (VD: Hiệu Sách/ quán trà Sen/ shop Sành điệu/ hiệu đèn Sáng – thậm chí là quán Say/ nhà hàng Sướng), bộc lộ những cá tính đa dạng hơn, những cảm xúc chân thực hơn của cuộc sống đời thường.

*TS.KTS. Nguyễn Trí Thành
Khoa Kiến trúc ĐH Kiến trúc Hà

2019/03/15

3 trường học có thiết kế kiến trúc đẹp tại Việt Nam

Những thiết kế mang đậm tính trực giác như “Nhà trẻ xanh” từ VTN Architect tại Biên Hòa là một tín hiệu cho thấy làn sóng mới trong xu hướng thiết kế kiến trúc trường học Việt Nam – thiên về tính độc đáo và giao hòa với thiên nhiên. Xu hướng này không chỉ được áp dụng trong trường học mà còn ở các tòa nhà, chung cư, văn phòng và nhà hàng.
Trước đó, từ năm 2011, Võ Trọng Nghĩa (VTN) Architects đã bắt tay vào thiết kế trường THCS & PTTH Phan Chu Trinh với sự hợp tác của hai kiến trúc sư Sanuki Daisuke, và Shunri Nishizawa. Kể từ đó trở đi, các môi trường giáo dục tiên tiến khác cũng bắt đầu áp dụng phương thức thay đổi thiết kế, không gian nhằm kích thích khả năng tiếp thu và tương tác của học sinh.
Vietcetera điểm qua ba trường học Việt có kiến trúc đẹp, sáng tạo và nổi bật. Mỗi ví dụ đều là một không gian bền vững và góp phần xúc tiến chất lượng giáo dục, được thiết kế bởi ba kiến trúc sư Sanuki Daisuke, Takashi Niwa, và Đàm Vũ.

Mối liên hệ giữa kiến trúc trường học và chất lượng giáo dục

1. Nhà trẻ Chuồn Chuồn Kim 2

Đặt tại quận 2, thiết kế Chuồn Chuồn Kim 2 mang dáng dấp của một ngôi nhà lego khổng lồ – tương tự như Chuồn Chuồn Kim 1 – nhưng với màu sắc truyền thống và nét ấm áp khác biệt hơn. Được biết, cả hai ngôi trường này đều đảm nhận bởi kiến trúc sư Đàm Vũ của Kiến trúc O.

Mặt tiền của Nhà trẻ Chuồn Chuồn Kim 2 | Ảnh: Hiroyuki Oki

Gạch là nguyên tố thường thấy trong kiến trúc trường học Việt. Để thực hiện mặt tiền công trình này, những viên gạch thô được sắp xếp so le để tạo thành họa tiết và các lỗ thông gió. Mỗi phần tường gạch đều được sắp xếp một cách khác biệt, nét ấm áp và mộc mạc của chúng tương phản với màu sắc rạng rỡ bên trong ngôi nhà.
“Quá trình trùng tu đi cùng với những giới hạn tồn tại từ trước đó. Chúng tôi phải ứng biến,” Đàm Vũ bắt đầu chia sẻ về quá trình biến một ngôi nhà cũ kỹ thành không gian học tập, tương tác cho trẻ em như ngày hôm nay.

Bản thiết kế hoàn thiện của CCK2 | Ảnh: Kiến Trúc O

Với mục đích tạo ra một không gian nơi trẻ em có những trải nghiệm phong phú và giàu ý nghĩa, “nên gạch thô là vật liệu phù hợp nhất cho bề ngoài công trình này,” Đàm Vũ chia sẻ. “Gạch khiến tôi gợi nhớ đến những khối lego trẻ em hay chơi, đồng thời bề mặt thô tưởng chừng như vừa xây xong hoặc vẫn đang xây dở.” Ngoài ra, nhóm kiến trúc sư còn thiết kế bề mặt gạch thô gồ ghề để định hướng gió thổi vào từ tầng dưới cùng, kết cấu gạch tầng dưới cùng mỏng hơn tầng trên để tản nhiệt và nắng.

Kiến trúc sư Đàm Vũ của Kiến Trúc O

“Nhưng chi tiết đặc biệt nhất của tòa nhà nằm ở bên trong,” Đàm Vũ cho biết, “mỗi tầng có một phong cách khác nhau, nhưng đều đối lập với tường gạch tĩnh lặng bên ngoài. Các phòng học có nhiều màu sắc hơn các trường học Việt Nam trước đây, và không gian cởi mở để trẻ em chơi chơi đùa tự do.” Tuy nhiên, dù có khác biệt thế nào, mục đích chung vẫn là khuyến khích những hoạt động giàu ý nghĩa giữa giáo viên và học sinh, đồng thời cũng là một phương pháp để khích lệ trẻ em khám phá, phát triển trí tò mò, và học tập.

Sảnh kính kết nối với cầu thang xoắn | Ảnh: Hiroyuki Oki

Một nguồn cảm hứng khác của Chuồn Chuồn Kim lại đến từ hang động. Theo như kiến trúc sư, “hang động truyền cảm hứng cho những tâm hồn thích phiêu lưu, và khiến cho những nhà thám hiểm nhỏ biết trân trọng nắng, gió, và những không gian rực rỡ sắc màu hơn.”

Trẻ em trong một lớp họp tại Nhà trẻ CCK2 | Ảnh Hiroyuki Oki

Tóm lại, những nhà trẻ như Chuồn Chuồn Kim 2 cho phép trẻ em tại thành phố có không gian để tự do vui đùa, khám phá. Tuy nhỏ nhưng giao hoà với thiên nhiên để tập cho trẻ biết trân quý hệ sinh thái từ khi còn bé.

2. Trường THCS & PTTH Phan Chu Trinh


Học sinh ra chơi tại Trường Bình Dương | Ảnh: Hiroyuki Oki

Trường THCS & PTTH Phan Chu Trinh là ngôi trường tư lập nằm khuất trong một khu rừng tại tỉnh Bình Dương, cách Sài Gòn 30 phút chạy xe. Với khí hậu nhiệt đới gồm hai mùa khô và mưa, và nóng ẩm quanh năm, cấu trúc trường đảm bảo tiện nghi bậc nhất trong cả mưa lớn và nắng gắt.
Daisuke
Sanuki Daisuke là một trong những kiến trúc sư thực hiện dự án này tại VTN – công ty kiến trúc Việt Nam nổi tiếng với nhiều giải thưởng quốc tế. “Tôi tham gia vào giai đoạn sau của dự án để phụ trách các yếu tố thiết kế chi tiết,” Sanuki giải thích.

Bản vẽ Bình Dương nhìn từ trên với hai sân trường | Ảnh: Hiroyuki Oki

Từ bỏ mọi ảnh hưởng từ kiến trúc Pháp thường thấy trong các môi trường học Việt Nam, ngôi trường này có kết cấu giao hòa với thiên nhiên, cởi mở với môi trường bên ngoài. Do khi hậu nhiệt đới, hầu như tất cả các cấu trúc trong trường đều là cửa sổ, khoảng trống, hoặc bề mặt thanh nhẹ – học sinh có thể nhìn ra sân trường từ bất kỳ tầng học nào. Mỗi mùa mưa, từng tầng học đều được bảo vệ trong khi bề mặt sảnh được thiết kế cho việc thoát nước nhanh chóng và tự nhiên. Theo như Sanuki, “với khí hậu nhiệt đới, đặc điểm này là sự bổ sung thiết yếu mà bất kỳ mô hình trường học nào ở Việt Nam cũng cần có.”

Học sinh đi qua sảnh Trường Bình Dương | Ảnh: Hiroyuki Oki

Trường có hai khoảng sân rộng – một chung và một riêng. “Sân riêng là nơi tĩnh lặng và thư giãn, thậm chí có cả bể bơi,” Sanuki chia sẻ. “Sân chung là nơi dành cho những hoạt động tập thể ồn ã hơn như chơi đùa và gặp gỡ nhóm bạn.” Dù công trình có thiết kế chữ S nhưng Sanuki tìm cách tăng cường sự lưu thông và đặt thêm các đường kết nối liên tiếp. Chính anh đã phản đối kế hoạch ngăn cách hai khoảng sân bằng tường, nhấn mạnh rằng chúng được kết nối với nhau. Có như vậy, “công trình mới giữ được nét phóng khoáng trong khi học sinh có thể tự do đi lại từ không gian này tới không gian khác,” anh giải thích.

3. Nhà trẻ xanh – Farming Kindergarten


Ảnh chụp vệ tinh cấu trúc Nhà trẻ xanh | Ảnh: Hiroyuki Oki

Nhà trẻ xanh – dự án kết hợp giáo dục với phát triển bền vững – đã được giới chuyên môn công nhận với nhiều đề cử và giải thích quốc tế. Xây dựng tại tỉnh Đồng Nai, ngôi trường có mái ngói uốn thắt nút thành ba vòng, bao phủ khu vực thoáng mát phía dưới cho trẻ em vui chơi.

Takashi Niwa
“Đây là một bước tiến tới văn hóa bền vững hơn ở Việt Nam mới,” Takashi Niwa chia sẻ về thiết kế của anh cho Nhà trẻ xanh.

Thiết kế và xây dựng với ngân sách tiết kiệm, Nhà trẻ xanh nằm gần một nhà máy giày và chuyên dành cho việc đào tạo con em công nhân làm việc tại đây. Ngôi trường là một dự án xã hội của doanh nghiệp giày và được xây dựng với nguồn hỗ trợ tài chính từ nhà máy. Ngoài ra, nhà trẻ này còn là một ví dụ điển hình cho những kiến trúc trường học thân thiện môi trường.
Để tìm hiểu thêm về quá trình thiết kế, chúng tôi đã nói chuyện với Takashi Niwa, một trong những kiến trúc sư của Nhà trẻ xanh. Niwa đảm nhiệm vai trò một trong những kỹ sư chính của dự án, làm việc bên cạnh Masaaki Iwamoto và Võ Trọng Nghĩa.

Trẻ làm vườn với người hướng dẫn trên mái Nhà trẻ xanh | Ảnh: Hiroyuki Oki

Đội ngũ này biết mình muốn tạo ra ba sân chơi trên mái nhà, và thiết kế mái vòng giúp phân cách các không gian trong khi học sinh vẫn có thể di chuyển tự do giữa các sân. Không những vậy, trước thực trạng Việt Nam hiện đứng thứ 27 về khí thải nhà kính, Niwa nhấn mạnh rằng học sinh cũng cần biết cách tương tác với môi trường tự nhiên xung quanh từ khi còn nhỏ. Đó là lý do ba sân chơi kể trên được thiết kế như là những “vườn treo” trên tầng mái. “Đây là một bước tiến đến nền văn hóa bền vững hơn ở Việt Nam,” anh giải thích, “là sân chơi sáng tạo cho trẻ em, nơi các bé có cơ hội học tập về hệ sinh thái và môi trường.”

Sân khấu nơi các bé và thầy cô tham gia các hoạt động văn nghệ tập thể | Ảnh: Hiroyuki Oki

Nhiệm vụ mỗi ngày của học sinh là tự tay vun trồng rau sạch cho mình ngay trên khu vườn tầng mái. Niwa nói: “Khi trẻ nhỏ học cách tự trồng trọt, các bé sẽ cảm thấy một mối liên hệ đặc biệt hơn là những thứ thức ăn mua sẵn từ chợ.” Hơn thế nữa, khu vườn này còn khuyến khích tính tình nguyện của trẻ khi để các bé tự xung phong tưới cây hoặc thu hoạch trang trại. Để bảo vệ môi trường, khu vực trồng trọt sử dụng nước tái chế từ trường học, trong khi đó ngôi trường được làm mát dựa vào các kết cấu thông gió và cây xanh cách nhiệt trên mái thay vì sử dụng điều hòa.
Dưới tầng mái còn có một dãy bậc thang có thể biến tấu thành sân khấu, nơi các bé và thầy cô tham gia các hoạt động văn nghệ tập thể. Niwa cho rằng các dự án trường học mang ý nghĩa đặc biệt, bởi đây là nơi có khả năng kiến tạo tương lai cho trẻ em và đất nước. “Qua dự án này, tôi muốn được đóng góp cho Việt Nam – đất nước mà giờ tôi gọi là nhà,” Niwa kết lại.

Bài viết này được dịch bởi Lace Nguyen.
Copy : http://vietcetera.com

2019/02/25

Ánh sáng trong thiết kế nội thất

“Trong thiết kế nội thất, bên cạnh yếu tố công năng, ánh sáng đóng vai trò đặc biệt quan trọng – là thành tố chính tạo nên chất lượng thẩm mỹ và cảm xúc cho không gian nội thất. Ngày nay, các công trình kiến trúc – nội thất càng được quan tâm, đầu tư cho ánh sáng”




Cũng như trong kiến trúc nói chung, ánh sáng trong nội thất bao gồm ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo. Ánh sáng tự nhiên là yếu tố chính tạo ra tương tác giữa nội thất và môi trường bên ngoài. Nguồn sáng tự nhiên từ các phương, hướng khác nhau có tác động rất đa dạng tới không gian nội thất. Một không gian nhận được nhiều ánh sáng tự nhiên sẽ luôn sinh động và tràn đầy sức sống. Trong đó, ánh sáng vào các thời điểm khác nhau trong ngày có những đặc điểm, tác động hoàn toàn khác nhau về mặt tâm – sinh lý với người sử dụng. Do đó, việc nghiên cứu hướng nhận sáng tự nhiên của một không gian nội thất rất quan trọng trong bố cục – sắp đặt nội thất, lựa chọn vật liệu cho nội thất…



Trong nội thất nhà ở, chất lượng ánh sáng tự nhiên mà một không gian nhận được là một trong những yếu tố tiên quyết để các nhà thiết kế phân khu công năng. Không gian bếp sẽ ấm cúng và dễ chịu hơn nếu có nhiều ánh sáng tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn sáng tự nhiên lại không nên quá gần bếp nấu. Mặt khác, hướng và vị trí cửa sổ phòng ngủ quyết định phần lớn vị trí đặt giường ngủ. Với nhiều cách thức và thủ pháp xử lý không gian như rèm, decan dán kính, không gian nội thất thậm chí biến đổi rất nhiều – Ví dụ màu sắc của rèm làm biến đổi ánh sáng, tạo nên hiệu ứng thị giác đôi khi tích cực, đôi khi tiêu cực. Đối với nội thất văn phòng, ánh sáng tự nhiên tác động mạnh mẽ tới năng suất làm việc. Cũng chính vì thế, mục tiêu của các nhà thiết kế và kỹ sư chiếu sáng là tạo ra những nguồn sáng nhân tạo gần nhất với tính chất ánh sáng mặt trời cho các văn phòng. Trong những không gian nội thất trưng bày, bảo tàng, ánh sáng tự nhiên lại được ưu tiên lấy từ trên mái theo phương thẳng đứng. Khi đó, các tác động của bóng đổ, của sự thay đổi ánh sáng vào các thời điểm khác nhau trong ngày tới không gian nội thất có thể được hạn chế nhất. Cũng chính ánh sáng tự nhiên là tiêu chí hàng đầu để các nhà thiết kế lựa chọn công năng trưng bày cho không gian. Một phòng tranh với nhiều ánh sáng tự nhiên – không qua lọc tia UV là hoàn toàn không tốt cho những tác phẩm nghệ thuật.



Trước kia, hệ thống chiếu sáng nhân tạo thường đơn giản, chỉ giải quyết một phần của yếu tố công năng là để nhìn thấy. Với yêu cầu ngày càng cao, chiếu sáng nhân tạo ngày càng được nghiên cứu và thiết kế kỹ lưỡng trong không gian nội thất để đáp ứng thêm những tiêu chí: Chiếu sáng thẩm mỹ, ánh sáng kiến tạo không gian, hay ánh sáng thông minh – chơi cùng không gian… Trong nội thất, màu – sắc của ánh sáng, sự phân bố ánh sáng, cường độ chiếu sáng là một trong những yếu tố chủ đạo tạo nên chất lượng thẩm mỹ. Rõ ràng chúng ta đều biết sẽ không có màu sắc nếu không có ánh sáng. Do đó, sự tương tác giữa vật liệu và ánh sáng là điều kiện tiên quyết cần được quan tâm trong thiết kế nội thất. Vào những thời điểm không có ánh sáng tự nhiên, màu của ánh sáng nhân tạo chi phối toàn bộ màu sắc mọi cấu kiện sàn – tường – trần và đồ vật nội thất. Sự phân bố ánh sáng trải đều hay nhấn, buông theo vùng tạo nên tính phân chia và độ sâu không gian nội thất khác nhau. Trong khi đó, cường độ ánh sáng có tác động lớn đến yếu tố sinh lý của mắt, cảm nhận của con người trong nội thất. Cùng với những yếu tố trên, thiết kế nội thất cần phân loại chiếu sáng theo tính chất và theo mục đích chiếu sáng.



Theo tính chất, chiếu sáng thường được phân loại theo chiếu sáng trực tiếp và chiếu sáng gián tiếp. Chiếu sáng trực tiếp thường phổ biến bởi hiệu quả về công năng “để nhìn thấy”, tuy nhiên, nếu không sắp đặt kỹ lưỡng, dễ gây cảm giác nhàm chán, thiếu cảm xúc. Chiếu sáng gián tiếp thường được lựa chọn trong thiết kế nội thất để tạo ra sự êm dịu và cảm xúc cho không gian. Chính các khe sáng, ô sáng gián tiếp đồng thời là các yếu tố trang trí của không gian.
Theo mục đích, chiếu sáng được phân loại thành chiếu sáng chung, chiếu sáng tập trung và chiếu sáng trang trí. Chiếu sáng chung không chỉ được hiểu là chiếu sáng đều khắp mà cả là chiếu sáng theo vùng, theo điểm mà vẫn đủ đảm bảo cho sự nhận diện và những những hoạt động cần thiết. Chiếu sáng tập trung tạo ra những điểm nhấn, qua đó làm nổi bật những đặc điểm cá tính riêng cho không gian nội thất. Những điểm nhấn nội thất được làm nổi bật, trong khi những thứ ít quan trọng hơn được làm mờ đi trong không gian. Mặt khác, chiếu sáng tập trung còn giúp “kiến tạo”, phân vùng không gian cho những không gian nội thất mở. Tương phản sáng – tối là tính chất tiêu biểu của chiếu sáng tập trung. Không có giá trị công năng nhiều, chiếu sáng trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của nội thất, tạo ra những hiệu quả thị giác gây chú ý.

Với những tính chất và mục đích đó, việc lựa chọn thiết bị trong chiếu sáng nội thất là vô cùng quan trọng, cần được cân nhắc song song với quá trình lựa chọn vật liệu nội thất. Thiết kế nội thất cần được bắt đầu hình thành ngay trong quá trình phác thảo kiến trúc. Cũng như vậy, thiết kế ánh sáng với hai yếu tố tự nhiên và nhân tạo cũng cần được thiết kế kỹ lưỡng để tạo những không gian ấn tượng nhưng thân thiện, tiện nghi và tạo ra những cảm xúc tích cực cho người sử dụng.

Giải pháp chiếu sáng, thông gió trong căn hộ chung cư một mặt thoáng ở Hà Nội

Qua nghiên cứu một số dự án chung cư tiêu biểu như Royal City, Time City, Time City Park Hill, Central Park giai đoạn 2010-2015, có thể nhận thấy: Tuy vị trí, cách tổ chức sắp xếp có khác nhau nhưng đều thuộc hai loại căn hộ: đầu hồi và căn hộ có một mặt thoáng (căn hộ MMT). Căn hộ MMT là loại căn hộ phổ biến, có số lượng nhiều nhất và là đối tượng được đề cập trong bài viết này, chủ yếu về giải pháp chiếu sáng và thông gió.



Bởi vì, đặc điểm chung của các căn hộ MMT là: Mặt thoáng tiếp xúc với không gian ngoài nhà thường hạn chế từ 7-9m; Các lớp phòng phía trong không tiếp giáp với mặt thoáng khó tiếp cận ánh sáng và thông gió tự nhiên; Đồng thời thường có ít nhất một phòng ngủ tiếp giáp với hành lang chung.



Giải pháp thiết kế chiếu sáng thông gió đối với các phòng không tiếp giáp với mặt thoáng

1.Giải pháp lấy sáng gián tiếp qua hành lang, qua không gian khác hoặc chiếu sáng nhân tạo

  • Các căn hộ sử dụng giải pháp lấy sáng gián tiếp qua hành lang thường có mặt tiền khá hẹp, khoảng 7m-8m cho căn hộ 2 phòng ngủ hoặc 8m-10m cho căn hộ 3 phòng ngủ. Các loại căn hộ này thường có từ 1 đến 2 phòng (phòng ngủ, bếp hoặc phòng sinh hoạt) không tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng tự nhiên nên phải lấy sáng qua cửa sổ mở ra hành lang chung hoặc lấy sáng gián tiếp qua một không gian khác. Ngoài ra khả năng thông gió tự nhiên yếu nên phải sử dụng giải pháp thông gió cưỡng bức.
  • Phòng ngủ chính và phòng sinh hoạt bố trí tiếp xúc với mặt thoáng, các phòng ngủ khác của căn hộ và khu bếp bên trong (vị trí đánh dấu mầu xanh) không có cửa sổ, chiếu sáng nhân tạo và không được thông gió tự nhiên. Phòng bếp lấy ánh sáng gián tiếp qua phòng sinh hoạt chung (SHC) nên chủ yếu cũng sử dụng nguồn sáng nhân tạo và thông gió bằng quạt.
  • Đối với các phòng ngủ tiếp giáp với mặt thoáng, có đủ điều kiện thuận lợi để lấy ánh sáng trực tiếp và thông gió tự nhiên. Còn phòng SHC và bếp phải lấy ánh sáng gián tiếp qua phòng ngủ nên thiếu sáng và lưu thông gió không tốt. Cá biệt có căn hộ cả 3 loại không gian SHC, bếp – ăn và phòng ngủ sử dụng giải pháp lấy sáng gián tiếp.


2. Sử dụng lô-gia sâu đưa ánh sáng tự nhiên vào bên trong căn hộ
  • Khi các căn hộ có chiều rộng mặt thoáng hạn chế, thông thường chỉ có thể bố trí hai phòng ra mặt thoáng, có thể dùng lô-gia sâu để lấy sáng và thông gió cho các phòng và không gian còn lại. Tuy nhiên nếu chiều sâu lô-gia quá lớn thì tác dụng lấy sáng hầu như không đáng kể, chủ yếu chỉ có tác dụng thông gió.
  • Giải pháp này khá hiệu quả đối với các căn hộ có chiều rộng mặt thoáng nhỏ, nhờ đó các phòng ngủ, khu bếp phía trong giáp hành lang có thể mở cửa ra lô-gia lấy sáng và khả năng lưu thông không khí cũng được cải thiện tốt hơn.


3. Sử dụng giếng mở và lô-gia sâu đưa ánh sáng tự nhiên vào bên trong căn hộ
  • Trong trường hợp căn hộ có kích thước chiều sâu lớn, mặt thoáng nhỏ, giải pháp bố trí lô-gia sâu không có hiệu quả lấy sáng cho không gian bên trong, có thể kết hợp thiết kế giếng mở kết hợp với lô-gia sâu để tăng cường hiệu quả lấy sáng cho các phòng bên trong của căn hộ.
  • Giải pháp kết hợp giếng mở và lô gia sâu giúp cải thiện khả năng lấy sáng và thông thoáng cho các căn hộ MMT tốt hơn. Chiều sâu lô-gia được rút ngắn nên các không gian bên trong nhận được nhiều ánh sáng hơn.
  • Thiết kế giếng mở kết hợp với lô-gia sâu cho phòng ngủ và cho khu vực bếp-ăn, phòng SHC là giải pháp tối ưu đối với các căn hộ MMT có chiều rộng mặt thoáng hạn chế.
  • Lô-gia phục vụ khu bếp kết hợp với giếng mở có thêm chức năng thông gió và lấy sáng cho không gian bếp-ăn.
4. Thiết kế giếng mở tăng thêm bề mặt được chiếu sáng tự nhiên
  • Các căn hộ thiết kế nhiều lô-gia một mặt tăng cường không gian phụ trợ, tiện ích cho sử dụng, mặt khác làm tăng diện tích phụ, qua đó làm tăng giá thành căn hộ. Giải pháp thiết kế giếng mở thay thế cho lô-gia sâu tăng cường hiệu quả sử dụng, khả năng lấy sáng, thông gió và giảm diện tích phụ trong mặt bằng căn hộ.
  • Giếng mở đưa ánh sáng đến không gian bên trong hiệu quả hơn giải pháp sử dụng lô-gia sâu. Các mặt tiếp giáp với giếng mở có thể mở cửa sổ lấy sáng trực tiếp hoặc bố trí lô-gia lấy sáng cho các không gian khác. Đây là giải pháp làm tăng diện mặt thoáng của căn hộ, hình thành nhiều căn hộ góc và giảm số lượng căn hộ MMT.


5. Tăng tối đa diện tích mặt thoáng, giảm chiều sâu căn hộ
Thiết kế các căn hộ MMT có chiều rộng mặt thoáng lớn, lòng nhà nông, các không gian chính đều được tiếp xúc với thiên nhiên, lấy sáng và thông gió trực tiếp. Với giải pháp này, các căn hộ không cần thiết bố trí lô-gia sâu, giếng mở, diện tích căn hộ được sử dụng hiệu quả. Mặt bằng đơn nguyên có dạng mỏng và dài.



6. Kết hợp linh hoạt nhiều giải pháp.
Tùy theo cấu trúc giao thông và bố trí căn hộ của mặt bằng điển hình, có thể thiết kế linh hoạt, kết hợp nhiều giải pháp để tăng cường khả năng thông gió, chiếu sáng tự nhiên cho căn hộ MMT. Mặt bằng đơn nguyên có dạng tuyến, độ dày mỏng khác nhau có thể sử dụng giải pháp bố trí căn hộ có chiều rộng mặt thoáng lớn ở khu vực lòng nhà mỏng, các khu vực khác có thể thiết kế căn hộ có lô-gia sâu kết hợp với giếng mở.

Nhận xét



Qua phân tích một số giải pháp thiết kế thông gió chiếu sáng trong căn hộ chung cư MMT, có thể nhận thấy xu hướng thiết kế căn hộ chung cư MMT với giải pháp lấy sáng, thông gió gián tiếp qua không gian SHC, phòng ngủ như ở các dự án Royal City, Hà Nội (2010), Time City giai đoạn 1 (2011) có các đặc điểm:
1. Căn hộ có kích thước chiều sâu lớn hơn chiều rộng mặt thoáng
  • Các không gian bên trong lấy sáng và thông gió gián tiếp không có đủ ánh sáng tự nhiên. Khả năng lưu thông không khí yếu, thường phải dùng thông gió cưỡng bức.
  • Tỷ lệ diện tích lô-gia trên diện tích căn hộ thấp, hiệu suất sử dụng diện tích mặt bằng cao do căn hộ có ít lô-gia.
  • Giải pháp sử dụng giếng hở, lô-gia sâu để lấy sáng và thông gió cho các căn hộ MMT như ở dự án chung cư Time City Park Hill, Hà Nội giai đoạn 2 (2014) đã đem lại hiệu quả tốt. Hầu hết các không gian đều có cửa sổ lấy sáng tự nhiên, khả năng thông gió cũng tốt do cấu trúc hẹp và dài của lô-gia sâu. Một số đặc điểm của các căn hộ:
  • Căn hộ có chiều sâu lớn (kích thước chiều sâu căn hộ lớn hơn chiều rộng mặt thoáng).
  • Các không gian bên trong lấy sáng và thông gió trực tiếp qua lô-gia và giếng hở nên đạt hiệu quả cao hơn so với giải pháp lấy sáng và thông gió gián tiếp.
  • Tỷ lệ diện tích lô-gia trên diện tích căn hộ cao, hiệu suất sử dụng mặt bằng thấp do căn hộ có nhiều lô-gia


2. Giải pháp thiết kế căn hộ có chiều rộng mặt thoáng lớn có kết hợp với lô-gia sâu và giếng hở trong các chung cư dự án Central Park (2014) đã thể hiện được hiệu quả vượt trội trong việc lấy sáng và thông gió cho căn hộ MMT. Các không gian chính như phòng SHC, bếp-ăn, phòng ngủ và thâm chí khu vệ sinh cũng được chiếu sáng và thông gió tự nhiên, một số nét chính trong mặt bằng căn hộ:
  • Căn hộ có mặt bằng hình chữ nhật dài theo mặt thoáng, kích thước chiều sâu giảm.
  • Hầu hết các không gian đều tiếp xúc trực tiếp với mặt thoáng và lô-gia.
  • Tỷ lệ diện tích lô-gia trên diện tích căn hộ hợp lý, hiệu suất sử dụng mặt bằng hợp lý.

2019/02/22

Phong cách tối giản trong kiến trúc và thiết kế nội thất

Xuất hiện từ những năm 1970, Minimalism được xem là một nhánh của phong cách đương đại. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các lĩnh vực như thời trang, âm nhạc, nhiếp ảnh, đồ họa,.. và kiến trúc – nội thất cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Hãy tìm hiểu Minimalism có ảnh hưởng như thế nào tới kiến trúc và thiết kế nội thất nhé!

Minimalism là gì?

Phong cách Minimalism (tối giản, tối thiểu) là một phong cách thể hiện những khuynh hướng đa dạng của nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật thị giác và âm nhạc mà các tác phẩm được tối giản vể những yêu cầu thiết yếu nhất của nó.

Phong cách tối giản xuất phát trong nghệ thuật phương Tây từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, rõ nét nhất là trong nghệ thuật thị giác với các tác phẩm hội họa của Mark Rothko. Khái niệm này dần dần được mở rộng để bao hàm cả những khuynh hướng trong âm nhạc mà đặc điểm là sự lặp lại, điển hình là các tác phẩm của Steve Reich, Philip Glass và Terry Riley. Phong cách tối giản có nguồn gốc bắt rễ từ sự thuần khiết và cô đọng của chủ nghĩa Hiện đại, được kết hợp với chủ nghĩa Hậu hiện đại và được xem như phản ứng đối ngược lại với chủ nghĩa Biểu hiện trong nội dung cũng như trong bố cục tác phẩm.







Ở phương Đông, Nhật Bản được coi là bậc thầy của phong cách tối giản trong kiến trúc.Phong cách này hiện diện trong phần lớn kiến trúc Nhật Bản, từ kiến trúc hiện đại cho tới những công trình mang âm hưởng truyền thống. Tính tối giản thể hiện nhất quán từ hình thức kiến trúc cho tới nội thất công trình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa một khuynh hướng hiện đại với những giá trị văn hoá – tinh thần truyền thống của Nhật Bản. Nhiều kiến trúc sư Nhật Bản thành công và ghi đậm dấu ấn với phong cách tối giản, chủ nghĩa tối giản trong kiến trúc, mà tiêu biểu là kiến trúc sư Tadao Ando. Những công trình của Tadao Ando thực sự là những tác phẩm nghệ thuật của không gian và ánh sáng, của sự giao hoà của kiến trúc và thiên nhiên, mang một cá tính đặc sắc và đầy sáng tạo.







Những đặc điểm cơ bản của Minimalism trong kiến trúc

Less is more – đó là sự khởi nguồn, tư tưởng, triết lý, là nguyên tắc chủ đạo mà kiến trúc sư Mies van der Rohe đã đề ra. Đối ngược lại với trường phái cổ điển và nhiều trường phái khác làm đầy, làm đẹp, làm hoàn thiện kiến trúc bằng những chi tiết, bằng trang trí nội thất; kiến trúc tối giản tự hoàn thiện bằng những gì ít nhất có thể – đó chính là nhiều. Ít nhất, cũng là hướng tới sự hoàn mỹ và thành công. Từ xuất phát đó, thì “hạn chế” là một trong những nguyên tắc – biểu hiện cụ thể của kiến trúc tối giản.



Hướng tới giá trị của không gian – bản chất của kiến trúc là không gian. Kiến trúc tối giản hướng tới giá trị đó và tạo lập không gian chặt chẽ, khúc chiết, cô đọng, thoáng đãng, tràn ngập ánh sáng. Sự đơn giản của hình thức tổng thể, chi tiết kiến trúc, sự tiết chế trong sử dụng vật liệu, màu sắc… nhằm đem lại tính tập trung vào không gian và đưa không gian thành nội dung chủ đạo của công trình. Không gian của kiến trúc tối giản có tính cân bằng, tĩnh tại, thuần khiết, được tạo nên bởi những mảng tường, mảng trần phẳng, đồng nhất, những đường thẳng, những hình khối đơn giản và những khoảng trống lớn. Việc loại bỏ, hạn chế các chi tiết, màu sắc, những thứ không cần thiết nhằm hướng sự tập trung cho không gian kiến trúc. Chính không gian tạo nên xúc cảm chứ không phải bởi những chi tiết trang trí, đồ đạc hay điều gì khác.





Hướng tới bản chất và bản ngã: về mặt hình thức thuần tuý, có thể nhận thấy kiến trúc tối giản mang lại sự khô cứng, nhàm chán và đơn điệu, thậm chí lạnh lùng và thiếu thân thiện. Nhưng bản chất của kiến trúc không nằm ở cái vỏ bề ngoài. Và để cảm nhận được điều đó, ngoài đôi mắt để nhìn, phải cần có một tư duy rộng mở, khám phá. Một kiến trúc sẽ tối giản khi chủ nhân hiểu rõ được bản ngã của mình, và kiến trúc sư chuyển hoá bằng ngôn ngữ kiến trúc. Và cũng chỉ khi hiểu rõ chính mình thì chủ nhân mới thực sự làm chủ và gắn bó được với ngôi nhà.





Kiến trúc tối giản có sự tương đồng với văn hoá truyền thống và Thiền tông Nhật Bản (Zen). Zen nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự trầm tư mặc tưởng hơn là việc đọc kinh kệ và các nghi thức tôn giáo cũng như lý luận về giáo pháp. Zen truyền tải những tư tưởng tự do và bản chất cuộc sống. Kiến trúc tối giản hướng tới bản chất của kiến trúc là không gian, đề cao bản chất của không gian và vật liệu. Chính vì lẽ đó, kiến trúc tối giản hoà nhập với văn hoá truyền thống Nhật Bản, tạo nên những không gian mang tính Thiền và những giá trị văn hoá mới thông qua kiến trúc.





Nghệ thuật ánh sáng: ánh sáng là một yếu tố cấu thành nghệ thuật kiến trúc. Với kiến trúc tối giản, ánh sáng rất quan trọng và càng có ý nghĩa hơn, nhất là ánh sáng tự nhiên. Màu sắc ở phong cách tối giản hạn chế nên ánh sáng là một thành phần chủ đạo để trang trí và tạo nên giá trị thẩm mỹ thông qua hiệu ứng thị giác. Ánh sáng tự nhiên luôn biến đổi và làm thay đổi những cảm nhận, cảm xúc của người đứng trong không gian đó. Ánh sáng được chủ định trong thiết kế để nhấn mạnh những thành phần, những khu vực chính; làm nổi bật hình khối kiến trúc, nội thất; dùng để dẫn tuyến hoặc tạo nên những khối sáng, bóng đổ theo ý đồ… Ánh sáng cùng hiệu ứng bóng đổ được khai thác thông qua những ô cửa, những vách kính, mái, những khoảng trống, những cấu kiện của hệ kết cấu, qua hệ thống rèm hay cả những tán cây. Ánh sáng nhân tạo cũng được nghiên cứu rất kỹ, tính toán cẩn thận trong ý đồ diễn tả cấu trúc không gian và những thành phần nội thất.





Phong cách tối giản trong thiết kế nội thất

Phong cách bố trí nội thất “minimalist” hiện đang rất được ưa chuộng bởi sự giản dị và tinh tế trong không gian mà nó mang lại. Phong cách Minimalism nghĩa là sử dụng những đường nét đơn giản, thật ít chi tiết, giảm thiểu đồ nội thất, mọi chi tiết đều có lý trong vị trí của mình. Trường phái này hiện tại đang cực thịnh ở Châu Âu – cái nôi của trang trí nội thất. Phong cách Minimalism ảnh hưởng rất mạnh đến xu hướng trang trí nội thất tại các nước Bắc Âu trong những năm cuối thập kỷ 90 cho đến hiện nay, và có ảnh hưởng khá lớn ở Châu Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản được xem là bậc thầy của phong cách hiện đại và tinh tế này và ta có thể tìm thấy âm hưởng của trường phái Minimalism trong hầu hết các công trình kiến trúc Nhật đương đại lẫn truyền thống.

Những nguyên tắc cơ bản trong thiết kế nội thất Minimalism


Less is more – Ít là nhiều: phong cách tối giản đúng như tên gọi của nó, chú trọng việc giảm thiểu đến tối đa việc trang trí trong không gian nội thất.Đi ngược lại các tiêu chuẩn tranh trí nội thất truyền thống về việc làm phong phú không gian bên trong với các vật dụng và chi tiết trang trí phức tạp phong cách này hướng đến việc loại các vật dụng thừa thãi nhằm giữ lại một không gian trống hoàn hảo. Chịu ảnh hưởng rất lớn từ quan niệm cũng như phong cách thiết kế và trang trí Nhật Bản, đồng thời được xây dựng trên nền tảng triết lý “Less is more”, việc trang trí nội thất theo phong cách Minimalism hướng sự chú ý đến những đường nét và kết cấu được ẩn giấu bên dưới. Các mảng tường, sàn và hiệu quả ánh sáng trên các mặt phẳng này chính là những yếu tố quan trọng làm nên phong cách tối giản. Sử dụng những đường nét đơn giản và sự kết hợp có tính toán của các mặt phẳng, không gian nội thất theo phong cách này là một tổng thể thống nhất, chặt chẽ về bố cục và nhất là giữ lại được một không gian kiến trúc đẹp, thoáng đãng, rộng rãi.

Tất cả những gì không cần thiết được coi là thừa thãi và được loại bỏ, từ đường nét, hình khối kiến trúc cho đến các trang trí nội thất. Bản thân những đồ đạc nội thất có ý nghĩa công năng cũng được hạn chế tối thiểu, là một thành phần cấu thành yếu tố trang trí, và được coi như những tác phẩm điêu khắc. Tất nhiên với hình thức, chi tiết cũng tối giản nhưng tinh tế.

Sự sử dụng hạn chế về màu sắc trong trang trí là đặc trưng dễ nhận diện nhất của phong cách này.Thông thường, có không quá ba màu trong không gian nội thất theo phong cách minimalist style: một màu nền, một màu chủ đạo và một màu nhấn. Màu sắc của các mảng tường là màu trung tính nhằm tạo ra một phông đệm cho các vật dụng trang trí bên trong, hướng sự chú ý của người quan sát đến những điểm nhấn quan trọng. Phông màu trung tính cũng có tác dụng tạo sự tương phản mạnh mẽ giữa các thành phần trang trí và có tác dụng tạo sự tương phản mạnh mẽ giữa các thành phần trang trí và có tác dụng kết nối các thành phần này lại với nhau. Các mảng tường trắng được sử dụng rất phổ biến trong phong cách Minmalism như một phong nền trơn nhằm tăng giá trị các đồ đạc xung quanh, đồng thời mang lại hiệu quả thị giác về một không gian rộng rãi hơn, thoáng đãng hơn.





Dùng ánh sáng làm nội thất:do hạn chế sử dụng màu sắc trong nội thất, ánh sáng trong phong cách Minimalism được xem như một thành phần trang trí quan trọng để tạo ra các hiệu ứng thị giác và thẩm mỹ. Việc sử dụng ánh sáng, nhất là ánh sáng tự nhiên, được chú trọng nhằm nhấn mạnh các khu vực quan trọng và tạo ra bóng đổ với hiệu quả cao để tôn lên các hình khối của vật dụng và các thành phần kiến trúc khác. Ánh sáng tự nhiên được lọc qua các rèm cửa, các bình phong chắn, xuyên qua các tán cây bên ngoài một cách có chủ đích để khi xuyên vào đến không gian bên trong đạt được hiệu quả chiếu sáng và thẩm mỹ mà người thiết kế đã định hướng trước. Ánh sáng nhân tạo được chọn lọc một cách cẩn thận để nhấn mạnh được hình dạng và cấu trúc của các thành phần trang trí nội thất.





Các thành phần trang trí nội thất cũng như vật dụng, bàn ghế được sử dụng ở mức độ tối giản, nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về tiện nghi sử dụng. Bàn ghế trong nội thất theo phong cách Minimalism đều có hình dạng đơn giản, hài hoà và hiện đại, được làm nên từ các đường nét không cầu kỳ nhưng tinh tế. Các vật dụng này một mặt đáp ứng được nhu cầu sử dụng, sinh hoạt của con người, mặt khác cũng chính là những thành phần trang trí cho nội thất bên trong. Bàn ghế không chỉ là nơi để ngồi mà còn được xem là những tác phẩm điêu khắc làm nên nét đẹp cho không gian bên trong.

Một phong cách sống phù hợp:phong cách tối giản được áp dụng trong thiết kế nội thất văn phòng một cách dễ dàng. Không gian làm việc thường được yêu cầu sắp xếp và bố trí gọn gàng, đồng thời vẫn đáp ứng được công năng sử dụng một cách tốt nhất. ĐIều này phù hợp với các tiêu chí của trường phái minimalist style. Và mặc dù đa số các văn phòng làm việc sử dụng ánh sáng nhân tạo là nguồn chiếu sáng chính, càng về sau này xu hướng tận dụng tối đa nguồn ánh sáng tự nhiên ngày càng được phổ biến.



Không chỉ là một phong cách trang trí nội thất và kiến trúc, Minimalism còn biểu hiện được phong cách sống của chủ nhân. Với phương châm loại bỏ những gì không cần thiết, phong cách này thật sự thích hợp với những người thích ngăn nắp, tự do và phóng khoáng.Platon, nhà triết học Hy lạp cổ đại nổi tiếng từng nói: “ Cái đẹp của phong cách, của sự hài hoà, của sự duyên dáng và nhịp nhàng phụ thuộc vào sự đơn giản”. Người Châu Âu sau một thời gian dài say mê với các chi tiết cầu kỳ, hoa văn phức tạp lại quay sang đi tìm cái đẹp trong sự đơn giản. Với nhịp độ cuộc sống ngày càng nhanh, tính cạnh tranh trong công việc ngày càng lớn và mật độ dân số ngày càng tăng, một không gian thoáng đãng, tràn ngập ánh sáng trở thành điều mà mọi người mơ ước. Đó có lẽ là lý do giải thích tại sao phong cách này lại đạt được ảnh hưởng và thành công lớn như thế trong trang trí nội thất nói riêng và thiết kế kiến trúc nói chung tại châu lục này.

Trải nghiệm thực tế ở Minotti Concept Store đầu tiên tại Việt Nam

Chiều tối ngày 25/11 vừa qua, Eurostyle phối hợp cùng thương hiệu nội thất cao cấp Minotti đã tổ chức buổi Chia sẻ & trải nghiệm thực tế sản phẩm Minotti đầu tiên tại Showroom Minotti Concept Store.



Minotti là thương hiệu nội thất nổi tiếng đến từ thành phố Milan,Italia danh vọng. Với triết lý thiết kế độc đáo, Minotti đã tạo nên những sản phẩm đột phá về mẫu mã và giải pháp công nghệ được nghiên cứu kỹ lưỡng. Đây cũng chính là lý do, trong suốt 70 năm thành lập và phát triển Minotti luôn giữ vững vị thế top đầu trong ngành sản xuất nội thất Contemporary ở thị trường Ý và quốc tế. Nắm bắt nhu cầu cũng như sự yêu thích của người Việt đối với thương hiệu này, Eurostyle đã nỗ lực đưa thương hiệu Minotti chính thức bước vào thị trường Việt Nam với sự đầu tư kĩ lưỡng cả về quy mô và chất lượng.





500 m2 Minotti Concept Store quy tụ các sản phẩm nội thất nằm trong BST mới nhất, với hai tầng trưng bày: showroom và thư viện vật liệu đồ sộ. Được chính Minotti Studio thiết kế và thi công theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đạt chuẩn 5 sao, Minotti Concept Store không chỉ trưng bày các sản phẩm nội thất mà còn là sự phối hợp chuẩn xác của hệ thống đèn chiếu sáng, thảm, tranh và màu sắc tạo nên không gian sang trọng cùng mang tính ứng dụng cao.







Trong sự kiện này, điều đặc biệt chính là khách mời, những kiến trúc sư, nhà thiết kế nội thất đầu ngành đã được trải nghiệm thực với sản phẩm – một điều chưa từng có trước đây đối với các dòng sản phẩm cao cấp. Lý giải về điều này, đại diện của Minotti, Ông Alessandro Minotti cho rằng:” Minotti không chỉ coi trọng việc thiết kế mà còn luôn quan tâm đến trải nghiệm chân thực nhất của khách hàng. Việc cảm nhận trực tiếp thay vì chỉ quan sát sát sẽ giúp khách hàng hiểu được giá trị và tính năng của từng sản phẩm.”



Ngoài ra, với mục đích giữ đúng những tiêu chí mà thương hiệu định hướng, Eurostyle đã xây dựng thư viện vật liệu với đầy đủ mẫu vật liệu từ vải, da, đá marble, kính, kim loại.. nằm ở tầng hai của showroom. Khách hàng có thể tham quan, trực tiếp chọn lựa vật liệu, màu sắc phù hợp với sở thích cá nhân và thiết kế cho dòng sản phẩm mà mình yêu thích.
Cũng trong phần trao đổi với chuyên gia nội thất ông Hoàng Đặng – GĐ công ty Eurostyle chia sẻ: “ Eurostyle vinh dự được hợp tác cùng thương hiệu Minotti và trở thành doanh nghiệp đầu tiên đưa Minotti chính thức bước vào thị trường Việt Nam. Hi vọng với sự hỗ trợ từ Minotti và sự nỗ lực của Eurostyle sẽ mang đến những trải nghiệm tốt nhất về sản phẩm cho khách hàng và cộng đồng kiến trúc sư. Tôi hy vọng rằng Minotti Concept Store đầu tiên ở Việt Nam sẽ là tiền đề cho sự phát triển và thành công của thương hiệu Minotti Việt Nam”.







Sau khi trải nghiệm thực tế sản phẩm ông Lê Trương – KTS công ty TTAS chia sẻ: “Tôi biết đến và tìm hiểu về thương hiệu Minotti vào 10 năm trước. Tôi vô cùng say mê, yêu thích các sản phẩm và ngưỡng mộ triết lý sản phẩm Minotti.  Cám ơn Eurostyle đã tạo cơ hội giúp tôi có thể chiêm ngưỡng tận mắt và trải nghiệm thực tế về sản phẩm”



Nguồn : Tạp chí kiến trúc